|
Ninh Bình - vùng đất
tiềm năng du lịch
Nằm ở cực Nam đồng
bằng châu thổ sông
Hồng, Ninh Bình là
một tỉnh cửa ngõ từ
miền Bắc vào miền
Trung và miền Nam
đất nước, được bao
bọc bởi những dãy
núi đá vôi, tạo nên
nhiều danh lam thắng
cảnh kỳ thú với
những dòng sông thơ
mộng, những hồ nước
mênh mông, tất cả
như đang thầm thì
câu chuyện muôn đời
của non và nước. Nơi
đây vừa là gạch nối,
vừa là ngã ba của ba
nền văn hoá lớn:
sông Hồng - sông Mã
- Hoà Bình.
Ninh Bình có
3 đường quốc lộ
chính (1A, 10, 12A)
và đường sắt xuyên
Bắc
-
Nam chạy qua, tạo
cho Ninh Bình vị trí
là cầu nối giữa hai
miền Nam Bắc, giữa
các tỉnh miền núi
Tây Bắc với miền
xuôi, giữa các tỉnh
duyên hải Bắc bộ với
Hải Phòng.
Toàn cảnh Cố đô Hoa
Lư
Ninh Bình là vùng
đất có nhiều di
tích, danh lam thắng
cảnh nổi tiếng của
đất nước, hoà quyện
cùng bản sắc văn
hoá, tạo cho tỉnh
Ninh Bình các thế
mạnh để phát triển
du lịch. Tiêu biểu
như Cố đô Hoa Lư,
vùng đất là kinh đô
của nước Đại Cồ Việt
thế kỷ thứ 10 - Nhà
nước phong kiến tập
quyền đầu tiên của
nước ta gắn liền với
ba vương triều: Đinh
- Tiền Lê - Lý, với
ba vị anh hùng dân
tộc: Vua Đinh Tiên
Hoàng, Vua Lê Đại
Hành và Vua Lý Thái
Tổ. Chính từ đây,
Vua Lý Thái Tổ đã
xuống chiếu dời đô
ra Thăng Long. Nơi
đây, đến nay vẫn còn
nhiều công trình
kiến trúc được lưu
giữ, đó là đền thờ
Vua Đinh Tiên Hoàng,
đền thờ Vua Lê Đại
Hành, nhà bia tưởng
niệm Vua Lý Thái Tổ,
lăng Vua Đinh, lăng
Vua Lê, phủ Bà Chúa,
phủ Vực Vông, bia
Cửa Đông, chùa Nhất
Trụ… Những bức tường
thành thiên tạo và
nhân tạo, những núi
non và hang động kỳ
tú, đậm chất văn
hoá, lịch sử như
Xuyên Thuỷ động, núi
Ông Trạng, núi Hòm
Sách, núi Cột Cờ,
núi Ghềnh Tháp, hang
Quàng, hang Muối,
động Thiên Tôn, động
Am Tiêm, động Liên
Hoa…
Hang động Tràng An
Xung quanh vùng đất
Cố đô Hoa Lư còn có
những di tích, những
danh lam thắng cảnh
thơ mộng, hấp dẫn du
khách, đó là khu Tam
Cốc - Bích Động được
mệnh danh là “vịnh
Hạ Long trên
cạn” của Việt Nam.
Tam Cốc đẹp nổi
tiếng và Bích Động
được mệnh danh là
“Nam Thiên đệ nhị
động” (động đẹp thứ
nhì trời Nam, sau
động Hương Tích ở Hà
Nội). Đền Thái Vi là
nơi in đậm dấu tích
của hai cuộc kháng
chiến chống quân
Nguyên, nơi thờ bốn
đời vua nhà Trần.
Cách đó không xa,
khu hang động sinh
thái Tràng An, nơi
hội tụ nhiều nhất
các động nước trên
diện tích hàng ngàn
hec-ta, với 31
thung, 50 hang động
xuyên thuỷ, có phủ
Khống, phủ Đột, đền
Nội Lâm nổi tiếng.
Chùa Bái Đính, ngôi
chùa lớn nhất ở nước
ta, có diện tích
700ha với vẻ đẹp
hoành tráng của chùa
Tam Thế. Chùa Bái
Đính đã được Trung
tâm sách kỷ lục Việt
Nam cấp bằng xác
nhận kỷ lục: “Đại
hội đồng chuông lớn
nhất Việt Nam (phá
kỷ lục Việt Nam)”
(quả chuông nặng 36
tấn); “Pho tượng
phật Thích Ca bằng
đồng cao và nặng
nhất Việt Nam” (pho
tượng đồng nặng 100
tấn); “Ngôi chùa có
bộ tượng Tam Thế
bằng đồng lớn nhất
Việt Nam” (mỗi pho
tượng đồng nặng 50
tấn); “Ngôi chùa có
giếng lớn nhất Việt
Nam” (giếng Ngọc có
đường kính gần 30m).
Tỉnh Ninh Bình có di
tích lịch sử văn hoá
và danh lam thắng
cảnh được xếp hạng
cấp quốc gia và cấp
tỉnh. Con số đó phản
ánh sự phong phú của
di sản, là tiềm
năng, tài nguyên du
lịch, điển hình như
đền thờ Vua Đinh
Tiên Hoàng ở xã Gia
Phương, động Hoa Lư,
đền thờ Trương Hán
Siêu, đền thờ Nguyễn
Công Trứ, đền thờ
Đức Thánh Nguyễn,
chùa Bàn Long, chùa
Địch Lộng, chùa Non
Nước, đình Trùng
Thượng, đình Trùng
Hạ, đèo Tam Điệp,
phòng tuyến Tam Điệp
- Biện Sơn, nhà thờ
đá Phát Diệm, khu
căn cứ cách mạng
Quỳnh Lưu…
Ninh Bình cũng là
nơi còn lưu giữ
nhiều nghề thủ công
truyền thống, trong
thời kỳ kinh tế du
lịch phát triển thì
đây lại là những sản
phẩm có giá trị cao
để phát triển dịch
vụ du lịch. Tiêu
điểm như làng nghề
trạm khắc đá Ninh
Vân, thêu ren Ninh
Hải, mỹ nghệ cói Kim
Sơn, đồ gỗ Phúc Lộc,
làng đá cảnh Bình
Khang…
Lễ hội Cố đô Hoa Lư
Về lễ hội, Ninh Bình
cũng là tỉnh có
nhiều tiềm năng.
Lễ
hội truyền thống và
nhiều hội làng mang
đậm yếu tố dân gian,
đậm đà văn hoá vùng
đất châu thổ sông
Hồng. Những lễ hội
lớn như lễ hội
Trường Yên, lễ hội
đền Thái Vi, lễ hội
Đức Thành Nguyễn, lễ
hội chùa Bái Đính,
lễ hội Báo Bản làng
Nộn Khê, hội đền
Dâu…
Về văn hoá ẩm thực,
từ lâu, Ninh Bình đã
nổi tiếng với bún
mọc Kim Sơn, rượu
Lai Thành, tái dê,
ngọc dương tửu, cá
rô Tổng Trường (Hoa
Lư), nem chua Yên
Mạc, mắm tép Gia
Viễn, cá chuối nướng
Vân Long, nhất hưởng
thiên kim (cơm
cháy), rượu cần Nho
Quan… Các món ăn đặc
sản trên cũng là
nguồn tài nguyên du
lịch có giá trị. Hay
nói một cách hình
tượng, thì văn hoá
ẩm thực như cái
duyên, tô điểm cho
môi trường du lịch
hấp dẫn.
Với tài nguyên du
lịch đa dạng và
phong phú, Ninh Bình
có nhiều tiềm năng
để phát triển các
loại hình du lịch
tham quan nghỉ
dưỡng, du lịch sinh
thái, du lịch văn
hoá – tín ngưỡng tâm
linh, du lịch thể
thao mạo hiểm, du
lịch vui chơi giả
trí, du lịch khảo
cứu và sưu tầm, du
lịch hội nghị, hội
thảo…
1. Vị trí địa lý
Tỉnh Ninh Bình nằm ở
cực Nam đồng bằng
Bắc bộ, có toạ độ
địa lý 19050' đến
20027' vĩ độ Bắc,
105032' đến 106027'
kinh độ Đông, cách
thủ đô Hà Nội 93km
về phía Nam. Dãy núi
Tam Điệp chạy theo
hướng Tây Bắc - Đông
Nam, làm ranh giới
tự nhiên giữa hai
tỉnh Ninh Bình và
Thanh Hoá. Phía Đông
và Đông Bắc có sông
Đáy bao quanh, là
ranh giới tự nhiên
với hai tỉnh Hà Nam
và Nam Định, phía
Bắc là tỉnh Hoà
Bình, phía Nam là
biển Đông.
Ninh Bình có diện
tích tự nhiên
1.389,1km², với
chiều dài bờ biển
18km, dân số 936.262
người. Toàn tỉnh có
62.000ha đất sản
xuất nông nghiệp,
trong đó đất canh
tác 47.000ha; đất
lâm nghiệp có rừng
29.000ha và trên
6.000ha diện tích
đất đồi, núi đá.
Ninh Bình có vị trí
chiến lược quan
trọng, là nơi tiếp
nối giao lưu kinh tế
và văn hoá giữa lưu
vực sông Hồng với
lưu vực sông Mã,
giữa vùng đồng bằng
Bắc bộ với vùng núi
rừng Tây Bắc của Tổ
quốc. Trên địa bàn
tỉnh có Quốc lộ 1A,
Quốc lộ 10; 12A; 12B
và đường sắt Bắc -
Nam chạy qua cùng hệ
thống sông ngòi dày
đặc như: sông Đáy,
sông Hoàng Long,
sông Càn, sông Vạc,
sông Vân,...tạo
thành mạng lưới giao
thông thuỷ, bộ rất
thuận tiện cho giao
lưu, phát triển kinh
tế trong và ngoài
tỉnh.
2. Dân cư, dân tộc
Ninh Bình là vùng
đất có con người cư
trú rất sớm. Các nhà
khảo cổ học đã phát
hiện xương, răng
người hoá thạch ở
Thung Lang (Tam
Điệp) có niên đại
cách ngày nay từ 3 -
4 vạn năm. Động
Người Xưa ở Cúc
Phương có di chỉ của
con người cách đây
gần vạn năm. Di tích
của nền Văn hoá Hoà
Bình còn tìm thấy ở
một số hang động
thuộc thị xã Tam
Điệp, phản ánh xu
hướng con người tiến
ra vùng đồng bằng
ven chân núi giáp
biển. Di chỉ Mán Bạc
(Yên Mô) có di tích
của con người thời
kỳ đồng thau cách
đây từ 3.300 - 3.700
năm.
Trong số 6 chiếc
trống đồng tìm thấy
ở Ninh Bình có 2
trống đồng loại I,
hiện vật tiêu biểu
của nền văn minh
sông Hồng. Điều đó
chứng tỏ Ninh Bình
là một trong những
địa bàn quan trọng
của nền văn minh
buổi đầu dựng nước.
Ninh Bình có hai dân
tộc chính là dân tộc
Kinh và dân tộc
Mường. Hiện nay, có
trên 2 vạn người
Mường sống xen kẽ
với người Kinh, tập
trung chủ yếu ở các
xã: Cúc Phương, Kỳ
Phú, Quảng Lạc, Phú
Long, Yên Quang,
Xích Thổ, Thạch Bình
và Văn Phương thuộc
huyện Nho Quan.
Theo số liệu thống
kê năm 2008, dân số
Ninh Bình là 936.262
người, trong đó Nam
giới 447.908 người,
Nữ giới 488.354
người; mật độ dân số
674 người/km2; tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên
8,68%; tổng số lao
động đang làm việc
phân theo các ngành
kinh tế 480.300
người.
3. Địa hình
Địa hình Ninh Bình
phân chia thành ba
vùng tương đối rõ
nét, vùng đồi núi ở
phía Tây và Tây Bắc;
vùng đồng bằng và
vùng ven biển phía
Đông và phía Nam.
Dãy núi đá vôi ở
phía Tây của tỉnh
chạy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam, bắt
nguồn từ vùng núi
rừng Hoà Bình chạy
ra biển tạo thành
vùng phù sa cổ ven
chân núi. Do quá
trình tạo sơn hơn
200 triệu năm về
trước đã tạo nên
nhiều hang động đẹp
như: Tam Cốc, Bích
Động, Xuyên Thuỷ
Động, Địch Lộng,
hang động Tràng
An,... Tiếp đó là
vùng đồng chiêm
trũng ở các huyện:
Nho Quan, Gia Viễn,
Hoa Lư, Yên Mô. Do
phù sa bồi đắp hàng
năm, đồng bằng tiến
ra biển từ 80 -
100m, tạo nên vùng
đất mới phì nhiêu,
màu mỡ.
Mỗi vùng có tiềm
năng và thế mạnh
riêng, song ba vùng
có thể bổ sung, hỗ
trợ nhau để phát
triển nền kinh tế
hàng hoá toàn diện
cả cây lương thực,
cây công nghiệp, cây
ăn quả, nuôi trồng
thuỷ, hải sản, công
nghiệp vật liệu xây
dựng và công nghiệp
chế biến nông sản
thực phẩm.
4. Khí hậu
Do đặc điểm về địa
lý, địa hình đa
dạng, nên khí hậu
Ninh Bình cũng mang
những nét đặc trưng
của khí hậu đồng
bằng Bắc bộ và có
ảnh hưởng sắc thái
khí hậu vùng Thanh
Hoá và khu 4 cũ. Khí
hậu của Ninh Bình
thuộc vùng tiểu khí
hậu của đồng bằng
sông Hồng. Nhiệt độ
trung bình năm là
23,10C. Tổng lượng
mưa trung bình trong
năm đạt 151,9mm,
phân bố tương đối
đồng đều trên toàn
tỉnh. Trung bình một
năm có 125 - 157
ngày mưa. Lượng mưa
tập trung chủ yếu
vào mùa hè, từ tháng
5 đến tháng 11,
chiếm 80 - 90% lượng
mưa cả năm.
5. Sông ngòi, thuỷ
văn
Hệ thống sông ngòi ở
Ninh Bình bao gồm hệ
thống sông Đáy, sông
Hoàng Long, sông
Bôi, sông Ân, sông
Vạc, sông Lạng, sông
Vân Sàng, với tổng
chiều dài 496km,
phân bố rộng khắp
trong toàn tỉnh. Mật
độ sông suối bình
quân 0,5km/km2, các
sông thường chảy
theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam để đổ ra
biển Đông.
Chế độ thuỷ triều
ven biển Ninh Bình
là chế độ nhật
triều, ngoài ra còn
có trường hợp bán
nhật triều và triều
tạp. Thời gian triều
lên trong khoảng 8
giờ, triều xuống 16
giờ. Khi triều cường
thì thời gian lên
xuống ± 1 giờ. Nhìn
chung, thuỷ triều
Ninh Bình tương đối
yếu, biên độ thuỷ
triều trung bình
trong ngày khoảng
150-180cm, lớn nhất
là 270cm, nhỏ nhất
2-5cm. |