|
PHỞ GIA TRUYỀN NAM
ĐỊNH
Người Hà Nội tự
hào với món phở,
bạn bè quốc tế
coi đây là một
trong những nét
đặc trưng nhất
của mảnh đất Hà
Thành. Cách đây
khoảng 4 - 5 năm,
những biển hiệu
mang tên: phở Nam
Định, phở gia
truyền Dao Cù,
Phở Cồ,...bắt
đầu xuất hiện
trên một số phố
của Hà Nội. Từ
đó đến nay, phở
gia truyền Nam
Định đã được đón
nhận và trở
thành một phần
"không thể thiếu"
trong đời sống
của người dân
Thăng Long - Hà
Nội.

Trong tiết trời
mát mẻ của những
ngày đầu mùa mưa,
tôi tìm đến cửa
hàng phở khá lớn
trên đường Kim Mã
với biển đề giản
dị: phở gia
truyền Nam Định.
Ngay cửa vào là
góc dành cho
những "nghệ nhân
nấu phở", tiếng
đập thái lách
cách, loẹt xoẹt
nghe thật vui tai,
khói bốc lên nghi
ngút từ hai chiếc
"nồi inox" cao trên
một mét (Đây là
điểm khác biệt
của các cửa hàng
phở Nam Định);
mùi thơm của gia
vị, của hành
tươi, của thịt
bò, của phở lan
toả trong khoảng
không gian rộng.
Gọi cho mình một
bát phở nước tái
chín, tôi bắt đầu
ngắm nghía từ
bàn ghế, đầu
bếp, người phục
vụ, đến khách
hàng. Tất cả đều
có vẻ hối hả. Ăn
phở mà vội vàng
thì còn gì là
ngon? Cuộc sống
hôm nay đâu còn
nhiều người ngồi
lâu để nhâm nhi,
để thưởng thức
đến tận cùng vị
ngon ngọt của phở
như nhà văn Nguyễn
Tuân ngày nào.
Cũng chính nhà
văn Nguyễn Tuân -
người nổi tiếng
sành ẩm thực -
cho rằng: phở có
nguồn gốc từ
người Hoa và
giảng nghĩa chữ
Ngưu nhục phấn
cũng là phở. Theo
các bậc cao niên
ở Nam Định, phở
làm theo kiểu
Việt Nam ngon hơn,
hợp khẩu vị hơn.
Các địa danh: chợ
Rồng, ngõ Văn
Nhân, phố Hàng
Thao, phố Bắc
Ninh,... là phố
hàng ăn đều gắn
với các đặc sản:
gạo tám Xuân Đài,
nếp Quần Liêu,
rượu vọc, lụa tơ
tằm, chuối ngự
Đại Hoàng, nước
mắm Sa Châu,... và
nhiều thức ăn ngon
khác, trong đó
không thể thiếu
món phở. Những
cửa hàng ăn có
tiếng một thời
trên đất Thành Nam
như Quảng Nguyên,
Hưng Nguyên, Quốc
Nguyên đều là của
người họ Cù
(Cồ), họ Chu, quê
gốc làng Dao Cù.
Ngay ông Đào Nguyên
Đán, người làng
Cao Đà, xã Nhân
Mỹ, huyện Lý Nhân
(Hà Nam), gia đình
mấy đời làm phở,
nay mở cửa hàng
ở số 128 Hai Bà
Trưng - thành phố
Nam Định, khách
quen vẫn gọi là
phở Đán cũng
phải nhờ kỹ
thuật của người
họ Phạm, làng Dao
Cù.

Qua bến Đò Quan,
xuôi tỉnh lộ 55
về huyện Nam Trực
trên chục cây số
là tới Dao Cù.
Sách Địa dư Nam
Trực ghi địa danh
Dao Cù thời Pháp
thuộc thuộc tổng
Sa Lung, nay là
một thôn thuộc xã
Đồng Sơn, quê hương
tiến sĩ Vũ Hữu
Lợi, bạn đồng môn
với nhà thơ
Nguyễn Khuyến.
Người Dao Cù đã
thạo nghề nông
lại giỏi nghề
bún bánh gia
truyền. Đặc biệt,
nhà nào cũng
biết nấu phở.
Cùng với thời
gian, nghề làm
bún bánh, làm
phở đã lan rộng
sang 3 xã Nam
Thành, Nam Thượng,
Đồng Sơn (Nam
Trực). Những cái
tên như Dao Cù, Tây
Lạc, Vân Cù, Đồng
Sơn,... gọi chung
là phở Nam Định
đã làm mê mẩn
những thực khách
khó tính nhất từ
Hà Nội, Hải
Phòng, tới thành
phố Hồ Chí Minh,
Lâm Đồng, Vũng
Tàu, Đồng Nai,...
Người Nam Định dù
tới làm ăn sinh
sống ở bất kỳ
địa phương nào
cũng mang theo
hành trang là
những nghề truyền
thống của cha ông.
Vì thế, ở đâu,
người Nam Định
cũng sống được.
Quay lại với bát
phở nóng hổi chị
phục vụ vừa đưa
tới, tôi chậm rãi
thưởng thức, cố
tình trở thành
một trong những
vị khách cuối
cùng rời khỏi
quán. Lân la hỏi
chuyện anh Hồng -
đầu bếp chính
của quán phở này
- tôi được biết:
anh không phải
người làng Dao Cù
chính gốc nhưng
đã có thời gian
học nghề ở đó.
Phở Nam Định có
phở xào, phở sốt
vang, nhưng phổ
biến hơn cả là
món phở nước.
Nguyên liệu chính
làm phở là bánh
phở, thịt bò hay
thịt gà và nước
dùng. Nước dùng
phải trong vắt,
không ngấy. Muốn
bánh phở ngon
phải chọn thứ tẻ
mới, trồng ở đất
sa non ven biển,
gạo ngâm ủ, xay
thành bột và
tráng bánh theo
lối thủ công sao
cho màng bánh
mỏng, mướt, dai.
Nếu để trong ngày
vẫn dẻo mềm thì
bánh không dùng
đến phèn chua.
Làm phở gà, chọn
loại mái tơ, sống
thiến. Có người
sành ăn, đặt cửa
hàng bát phở da
gà, chỉ có món
da kê chín vàng
thái mỏng chan
với nước dùng.
Nếu là phở bò,
thì phải chọn
loại thịt lột da,
không dùng bò
thui, làm giảm vị
ngọt của thăn
nõn. Thăn bò có
nhiều loại, nhưng
ngon nhất là
miếng quả thâm
(vai trước), quả
mật (bắp mông),
thứ đến là quả
bàng (mông sau),
rồi miếng thuồng,
miếng chép,... Có
người lại mê nạm
sườn, nạm bụng,
nạm gầu (chỗ yếm
sát sườn bò).
Muốn bát phở
ngon, khó nhất là
nghệ thuật chế
biến nước dùng.
Chọn xương ống bò
hoặc hom lợn, rửa
sạch bỏ nồi ninh
đủ độ mới vớt
váng, hãm lửa,
nếu để quá nhừ,
nước sẽ ngàu
đục. Bánh phở cho
vào từng bát,
nước dùng chế ra
xoong nhỏ, qua lửa
cho sôi lại mới
chan mời khách.
Nước phở ngon còn
bởi các gia vị
để chế biến nước
dùng, đây là bí
quyết gia truyền.
Nhiều khách sành
còn chọn giờ ăn,
không đi quá sớm
vì lúc đó nước
dùng chưa đủ đậm
đà.
Nhìn mấy bàn
thực khách mới
vào, tôi vui vẻ
hỏi anh Hồng "đông
khách thế này
thì chẳng mấy mà
giàu có?". Anh tâm
sự: "Nghề làm
phở nước không thu
được nhiều lãi.
Những hàng muốn
giữ được khách
phải tính toán
kỹ lưỡng nguyên
liệu đủ làm trong
ngày, thức khuya
dậy sớm, đảm bảo
lúc nào cũng tươi
ngon nóng sốt.
Nhiều cửa hàng
làm được điều
này nên nhiều
người làm nghề
cũng vì thế trở
nên giàu có. Tôi
đang phấn đấu
bằng họ đây". Nói
vậy thôi chứ thực
tế thì anh Hồng
cũng là một trong
những ông chủ lớn
của phở Nam Định
trên đất Hà Thành
này.
Nếu bạn hỏi bất
kỳ một thực
khách "Tại sao
lại chọn phở Nam
Định?" thì chắc
chắn bạn sẽ nhận
được câu trả lời
"Vì đó là món
quà ngon và sạch
sẽ, giá cả lại
không quá khắt khe
với túi tiền
người lao động".
Bát phở nghi ngút
khói, có mùi thơm
của gia vị, trộn
lẫn mùi hành
tươi, húng Láng,
lát ớt trứng
bống (ớt chỉ
thiên), hạt tiêu,
chanh quả, chút
mắm ngon, nếu
thích có thể gọi
thêm vài chiếc
quẩy ăn kèm,...
sẽ là món bổ
dưỡng cho người
thức khuya, người
háo nước hay chỉ
đơn giản là người
thích thưởng thức
của ngon vật lạ
của đất nước
Việt Nam.
Theo Namdinh.gov.vn |